Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

Nghe Nhạc sỹ Trần Hoàn kể chuyện

Hôm nay Ngày 1-4-2015. Ngày Ba tôi đã đi xa chúng tôi tròn 48 năm, tức là 18.230 ngày. Hơn 18 nghìn ngày đã qua tôi chắc chắn rằng không một ngày nào tôi không nghĩ về Ba, nói chuyện và tâm sự với Ba.

Từ khi có được quyển sách viết về Ba do trường Đại Học Y biên soạn “ Đặng Văn Ngữ - Một Trí Tuệ Việt Nam”, tôi luôn giữ nó bên mình và ôm nó trên ngực mỗi khi nhớ Ba.
Trong quyển sách này có một bài của Nhạc sỹ Trần Hoàn, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần bài này bởi vì ông đã kể về những này cuối cùng của Ba ở chiến trường Thừa Thiên – Huế. Ông đã ghi lại nhiều hình ảnh của Ba tôi trên đường ra mặt trận. Những hình ảnh trèo đèo lội suối rất vất vả mà thân quen của người chiến sỹ đi B.

Hôm nay nhân ngày giỗ của Ba tôi, tôi xin được đăng lên bài này để được chi sẻ cùng các bạn.

Nhớ anh Đặng Văn Ngữ

Nhạc sỹ Trần Hoàn
Tôi gặp anh Ngữ lần đầu vào năm 1949, tại một cuộc hội nghị về Văn hóa ở Liên khu IV. Tham dự Hội nghị có 3 thành phần : Các nhà Khoa học kỹ thuật, các nhà giáo và giới văn nghệ sỹ. Hồi đó tôi mới 21 tuổi, là ủy viên Ban chấp hành trẻ nhất của Chi hội văn nghệ Liên khu IV (cũ). Trước đó tên tuổi của anh Ngữ đã được biết đến như một trí thức yêu nước tiêu biểu, vừa từ Nhật Bản trở về, mang theo một dự án sáng tạo độc đáo. Bào chế thuốc kháng sinh Penicilin ngay trong nước để cung cấp cho nhu cầu của Kháng chiến. Dáng người thanh mảnh, giọng nói đặc Huế. Thái độ đối xử lịch thiệp, cởi mở, khiêm tốn và chân thành. Anh đã có sức hấp dẫn ngay từ phút đầu gặp gỡ,nhất là với lớp người trẻ chúng tôi. Sau đó, bẵng đi một thời gian dài tôi không có dịp được gặp lại anh. Tôi ra hoạt động ở Liên khu Ba rồi ra khu tả ngạn sông Hồng. Còn anh ra Việt Bắc để mở phòng Bào chế Penicilin và giảng dậy tại Trường Đại Học Y Khoa kháng chiến tại Chiêm Hóa cùng các Giáo sư Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng. Hòa bình lập lại, tôi được tin anh về tiếp quản Trường Đại học Y khoa Hà Nội, làm chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng, nơi anh đã từng làm việc trước khi đi du học tại Nhật Bản, đồng thời là Viện trưởng Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng đầu tiên của Việt Nam. Còn tôi về tiếp quản Hải Phòng, rồi làm Giám đóc Sở Văn hóa ở đó nên cũng không có dịp nào được gặp anh.
Mãi đến đầu năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc đã giúp tôi có cơ hội được gặp lại anh, được sống gần anh một thời gian. Đó là vào những ngày khi cả tôi và anh cùng chuẩn bị thể lực và hành trang để lên đường vào Nam. Chúng tôi đều cùng vào chiến trường Trị Thên – Huế, mảnh đất quê hương của cả hai chúng tôi’
Vậy là, sau 18 năm tôi mới được gặp lại anh và cuộc gặp gỡ lần này đã gắn chặt mãi trong tôi tình cảm sâu đậm với anh. Những ngày chuẩn bị đi B, chúng tôi sinh hoạt trong cùng một tổ. Mọi việc như học tập Nghị quyết về miền Nam, tập gùi gạo leo dốc, tập bắn súng, tập chạy, lăn lê bò toài ..v..những công việc chuẩn bị của người lính đi B, chúng tôi sát cánh bên nhau. Tất cả mọi người đều biết anh Ngữ là một trí thức có uy tín, Viện trưởng Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Con trùng, đã từng chỉ đạo phòng chống có kết quả căn bệnh này ở miền Bắc, tình nguyện vào Nam để nghiên cứu Vaccin chống sốt rét cho bộ đội đi B dạo ấy. Ai ai cũng chăm lo cho anh, thường xuyên hỏi ý kiến anh. Ngược lại, biết tôi là Giam đốc Sở Văn hóa, có kinh nghiệm về công tác Tuyên huấn lại tháo vác nên anh cũng thường trao đổi với tôi để làm công tác tư tướng cho đoàn.
Đường hành quân vào Khu ủy Trị Thiên- Huế tưởng gần mà hóa xa. Tôi còn nhớ ngày xuất quân đúng dịp Tết, nhân ngừng chiến mấy ngày. Đoàn chúng tôi lên 4 chiếc xe Commanca. Đi thẳng đến trạm Ho ( Quảng Bình) Rồi từ đó bước đường của người chiến sỹ, gùi gạo, cõng ba lo hăm hở đi vào chiến trường. Những ngày tạm biệt miền Bác vào Nam sao mà lưu luyến!.  Cả đoàn của Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng gồm 12 người do Bác sỹ Nguyễn Tiến Bửu làm Trưởng đoàn và chúng tôi thay phiên nhau chia gánh đỡ chiếc ba lo khá nặng của anh Ngữ.
Anh tự nguyện đi B như bất cứ người chiến sỹ nào với một hành trang không dưới 30kg, đi bộ, leo dốc hàng tháng trời qua nhiều vùng nguy hiểm dưới bom đạn của kẻ thù. Tôi không thể kể hết những vất vả gian nan mà chúng tôi đã chia sẻ với anh. Những lúc nấu cơm sống, những lúc dừng chân dưới mưa tầm tã, do không mắc võng đúng quy định nên đến khuya nước ngập cả võng, phải thức dậy ngồi trọn đêm chờ sáng. Những lúc leo dốc tưởng đứt ruột gan, những lúc đói chia nhau từng miếng lương khô, và nhớ hơn cả là những câu chuyện tâm tình mà chúng tôi đã kể cho nhau nghe trong những đêm mắc võng giữa rừng.
Khi sắp vượt qua đường 9, xẩy ra một sự cố bất thường làm đoàn chúng tôi phải dừng lại gần một tuần. Lính Mỹ mở trận càn quét Đường 9. Tại trạm giao liên, gạo dự trữ cạn dần, chúng tôi phải ăn rất dè sẻn quỹ gạo, muối gùi theo mình. Cả đoàn phải chia nhau đi chặt “Đoắc” trong rừng rồi đem về nấu với ít bột ngọt làm bữa ăn chính. Anh Ngữ cùng chúng tôi vui vẻ ngồi ăn xì xụp bên nhau như trong một gia đình. Trong đoàn của Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng có nhiều Y sỹ, y tá có khả năng văn nghệ, anh Ngữ gợi ý tôi nên tập cho anh chị em hát để làm “ Dân vận “ mỗi khi tới trạm giao liên.. Tôi hưởng ứng ngay, sáng tác tức thời một bài hát lấy tên “ Thương yêu nhất, đường ra mặt trận”, vừa đi tôi vừa tập cho anh chị em trong đoàn hát. Thế là nhóm văn nghệ hành quân ra đời theo sáng kiến của anh Ngữ mà tôi là chủ trò..
Đã 30 năm rồi tôi vẫn còn nhớ lời bài hát Đường ra mặt trận phản ảnh tâm trạng của chúng tôi ngày đó :
Đường yêu nhất, đừơng ra mặt trận
Có gì vui bằng lúc hành quân
Nằm dốc núi nghe rừng xào xạc
Chuyện tâm tình, đợi tiếng hát Châu Loan
Chị em ơi trên đường về quê hương,
Đi vơi nhau cho có chị có anh
Dẫu gian nan, đói no cùng chia sẻ
Đừng ngại gió to, vững lái ta chèo
Đường yêu nhất đường ra mặt tận
Đường dạy căm thù, đường dạy ta biết thương...
Trận càn của Mỹ đã chấm dứt. Chúng tôi vượt qua đường 9 để đặt chân vào chiến khu Quảng Trị rồi sau đó không bao lâu chúng tôi đến trạm giao liên đặc biệt của Khu ủy Trị Thiên – Huế. Đoàn của anh Ngữ được đón tiếp trước rồi được đưa vào hậu cứ. Riêng tôi vì đồng chí Lê Chưởng, phó bí thư Khu ủy, người đã trực tiếp xin tôi vào chiến trường đi vắng nên tôi phải nằm lại chờ ở trạm giao liên, nửa tháng sau mới bắt đầu nhận nhiệm vụ.
Hôm tôi vào nhận công tác ở Khu ủy, đã thấy anh Ngữ ở đó. Lúc bấy giờ anh là khách đặc biệt của Khu ủy. Sau khi làm việc với anh Trần Văn Quang, Bí thư Khu ủy Trị Thiên – Huế, anh Ngữ gặp tôi hỏi :
-      Mình nghe nói mấy hôm nữa có một lớp tập huấn cho cán bộ dưới đồng bằng lên, Hoàn có dự không ?
-      - Có! Tôi trả lời- Tôi được anh anh Quang và anh Lê Chưởng phân công theo dõi lớp học để về làm công tác tuyên truyền của Khu.
-      Anh Ngữ khẩn khoản nói với tôi :
-      - Hoàn làm sao nói hộ cho mình được dự với, mình thèm lắm, nhất là có anh em ở Huế lên, mình muốn hỏi thăm tình hình quê nhà ở An Cựu, lâu lắm mình không được tin tức gì của những người thân.
-      Tôi hỏi lại anh :
-      Thế anh đã trình bầy việc này với các anh ở Khu ủy chưa?
-      Mình không tiện nói, vì các anh đã chỉ thị cho đoàn mình qua bên Bộ Tư lệnh Quân khu để dựa vào đó xây dựng cơ sở nghiên cứu vaccin chống sốt rét.
-      Tôi biết Trung Ương Đảng có điện vào chỉ thị cho Khu ủy phải hết sức lo chu đáo cho anh Ngữ. Tôi đành trả lời anh:
-      Kể cũng khó đấy anh Ngữ ạ, nhưng tôi sẽ cố gắng trình bầy với các anh trong Khu ủy.
-      Sau đó, tôi gặp anh Trần Văn Quang, anh Quang giải thích cho tôi như sau :
-      - Hoàn vào đây công tác lâu dài, còn anh Ngữ chỉ ở lại một thời gian để nghiên cứu vaccin chống sốt rét. Công việc rất cấp bách. Khu vực này không yên, đêm ngày B52, B57 ném bom thường xuyên. Chỗ chúng ta đứng đây không xa giáp ranh là mấy, pháo địch từ Tử Hạ có thể bắn bất cứ lúc nào. Phải bố trí đoàn của anh Ngữ đến chỗ an toàn hơn và bảo đảm hậu cần tốt hơn. Địa điểm mở lớp chỉnh huấn cũng chưa thật an toàn đâu. Thôi, Hoàn gặp anh Ngữ nói lại với anh như thế.
-      Tôi gặp lại anh Ngữ truyền đạt ý kiến của anh Quang. Hai anh em đành tạm biệt, mà lòng không khỏi bùi ngùi. Dẫu sao chúng tôi cũng đã cùng nhau “ đầu gối tay ấp”, “ chia ngọt sẻ bùi” hơn một tháng trên đường hành quân.
-      Chia tay với anh Ngữ xong, tôi đến ở tạm tại hầm của anh Thuyên, Phân xã trưởng của Thông tẫn xã và anh Đặng Đình Loan ( sau này là tác giả Đường thời đại) để chuẩn bị dự lớp tập huấn. Tối hôm ấy một đợt pháo bầy của địch từ dưới xuôi bắn lên trúng vào địa điểm của chúng tôi. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là pháo bầy. Đó là một trận mưa pháo cấp tập, bất ngờ, chụp xuống đầu không còn cho ai kịp làm gì được nữa. Cây cối xung quanh đổ rạp như một trận động đất. Tôi cùng Thuyên và Loan cố lao xuống hầm. Khi tiếng pháo đã im chúng tôi mới biết Thuyên bị thương, một mảnh đạn găm vào chân. Tôi và Loan vội băng vết thương cầm máu cho Thuyên, chuẩn bị để ngày hôm sau cáng Thuyên sang bệnh xá của Quân khu. Mờ sáng hôm sau tôi đã nghe tiếng bì bõm ở ngoài suối và một giọng Huế ấm áp cất lên:
-      - Trần Hoàn có đây không?
-      - Có, ai đấy?- Tôi trả lời
-      Ngữ đây mà. Nghe nói pháo bắn lên. Có việc gì không?
-      Không việc gì anh ạ, nhưng anh Thuyên bị thương.
-      Bị thế nào ?
-      Nói xong, anh Ngữ vào hầm với bộ đồ nghề tói thiểu mà cậu cần vụ lúc nào cũng xách theo. Anh tháo băng xem xét vết thương của Thuyên rồi tháo tiếp garô , lắc đầu nhìn tôi:
-      Đúng là dân văn nghệ, chẳng biết gì về Y tế. Chỉ nên Garô một thời gian thôi, rồi tháo ra khi máu đã cầm. Nếu để lâu khéo phải cưa chân mất.
-      Lần đó tôi được anh dậy cho một bài học về nghề y.
-      Chúng tôi uống hết một ấm trà của đồng bằng gửi lên do Loan pha vội. Rồi chia tay với tôi anh nói :
-      Thôi mình cùng anh em trong đoàn hành quân sang Quân khu đây. Không dự được lớp tập huấn với Hoàn tiếc quá, nếu có tin tức gì về Huế, Hoàn báo cho mình biết với nhé. Có dịp mình sẽ tạt ra gặp anh em cho đỡ nhớ.
-      Chúng tôi ôm nhau, có ngờ đâu đó là lần chia tay cuối cùng.
-      Hai ngày sau, tôi bước vào lớp tập huấn. Phụ trách lớp có anh Hoàng Ngọc Quang ( nay là Thiếu tướng) và anh Lê Tư Sơn ( sau này là phó chủ tịch Tỉnh Bình Trị Thiên ) cả hai đều là cán bộ tuyên huấn của Trị Thiên- Huế. Còn tôi là lính mới bổ xung. Buổi khai mạc lớp học, đồng chí Trần văn Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy nói chuyện về tình hình nhiệm vụ mới. Gần 40 anh chị em cán bộ cơ sở từ đồng bằng Quảng Trị, Thừa Thiên Huế lên háo hức nghe phổ biến chủ trương về cuộc tấn công nổi dậy của nhân dân ta trong năm 1967. Phổ biến xong đến trưa anh Quang về lại căn cứ. Đường đi bộ từ lớp học về đó khoản 2 tiếng đồng hồ. Nhưng chừng một tiếng sau thì bom B52 bỗng nhiên chụp xuống khu vực chúng tôi đang tập huấn kéo dài đến ba đợt. Cả khu rừng chao đảo. Chúng tôi lo lắng không biết anh Quang có bị dính bom không?. Sau giây phút bàng hoàng, lớp học lại chấn chỉnh đội hình và tiếp tục làm việc. Đến tối tôi điện thoại về văn phòng khu ủy hỏi tin tức, được biết anh Quang đã về tới hậu cứ anh toàn. Tôi thở phào, nhưng đầu dây nói bên kia anh Nguyễn Đức Hân, cán bộ văn phòng Khu ủy báo cho tôi biết một cái tin rụng rời:
-      Anh Ngữ đã hy sinh rồi !
-      Sao? – Tôi không tin vào tai mình nữa – Tôi mới gặp anh đây cơ mà !
-      Anh Ngữ vừa hy sinh trong trận bom trưa nay !
-      Tôi buông điện thoại xuống, nước mắt tràn ra. Thế là tất cả dự định của anh đều dang dở. Đoàn chống sốt rét thân thiết như ruột thịt đối với tôi từ nay mất người  thầy, người cha. Thế là sự mong chờ của biết bao chiến sỹ đang sốt rét vật vã đã bị hẫng hụt. Còn đối với tôi đó là một mất mát không gì bù đắp được. Tôi đã mất đi một người bạn lớn, một người anh tài năng, đức độ, trung thực, chân thành và hết sức vị tha !.
-      Bây giờ ngồi nhớ lại những phút cuối cùng của anh sao mà đau xót quá! Hôm ấy đã có thông báo của trên sắp đến giờ B52 hoạt động. Người chiến sỹ liên lạc kịp xuỗng chỗ anh Ngữ để thông báo tin trên, mời anh xuống hầm. Ở chiến trường ngày ấy, chúng tôi thường xuyên được Trung ương thông báo trước những giờ B52 có thể ném bom để kịp thời trú ẩn. Nhưng nhiều khi B52 lại ném bom ở nơi khác, vì chỉ có thể biết giờ hoạt động của chúng chứ không thể biết trước được địa điểm hoạt động của chúng. Bởi vậy nhiều người có ý nghĩ không nên bị động với B52, việc mình cứ làm nếu không thì không làm gì được cả vì B52 hầu như hoạt động suốt ngày. Không biết anh Ngữ có nghĩ như thế không. Nhưng sự thật là anh không xuống hầm kịp. Đó là vào lúc 14 giờ ngày 1-4-1967. Một bộ phận lớn anh chị em trong đoàn hôm đó xuống khu vực  giáp ranh để lấy gạo từ đồng bằng lên, còn lại ở căn cứ một bộ phận nhỏ tiếp tục hoàn chỉnh nơi làm việc như đào hầm , làm láng trại, lợp mái lá, vót mây. Cùng ở lại với anh Ngữ có cô Tuyên người Hung Yên, hát rất hay, cô Thành người Phú Thọ và cô Oanh cũng người Hưng Yên. Các cô đang vót mây chờ khi đoàn về tiếp tục làm hầm. Hầm tuy được đào xong nhưng còn lộ thiên. Anh Ngữ đang ngồi làm việc bên kính hiển vi thì đồng chí liên lạc đến báo. Anh Ngữ vừa làm việc vừa đáp lại :
-      - Thôi, giờ báo động cũng đã đến rồi, mà bọn mình cũng đang ngồi dưới hầm đó thôi. Dễ gì mà nó ném trúng!
-      Người chiến sỹ liên lạc đã không đủ kiên quyết cần thiết để đưa giáo sư về căn hầm an toàn hơn. Và thế là cái gì phải đến đã đến : Một trong hai quả bom lạc mà ở nơi tập huấn tôi nghe tiếng nổ rất rõ đã rơi trúng vào nơi anh Ngữ cùng hai cô y tá Tuyên và Thành đang ngồi. Cô Oanh ngồi cách đó bị bắn ra xa nhưng thoát được.
-      Tôi thương anh Ngữ, thương cả đoàn chống sốt rét bơ vơ như đàn con mất cha,thương các cô Tuyên, cô Thành tuổi mới 18, 20 ngày nào trên  đường hành quân tôi còn dậy hát, ngâm thơ, lại ngẫm mình biết có qua khỏi những chuyện bất ngờ rủi ro như vậy không. Ngày chia tay với đoàn chống sốt rét trở về Bắc, chúng tôi chỉ biết ôm nhau mà khóc. Từ đó đến nay đã tròn 30 năm trôi qua tuổi đời tôi gần 70 mà tôi không bao giờ quên giọng nói dịu dàng, nụ cười chân thật, phong cách sống dản dị gần gũi, suy nghĩ lớn mà thiết thực, ý chí đanh thép và tình cảm tràn đầy của anh Ngữ, người đồng chí, đông hương, người trí thức đúng với nghĩa đích thực của nó, đã hiến dâng tất cả cho sự nghiệp của Tổ quốc và Nhân dân.

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Chính quyền HN: Từ không cần dân tới phạm tội có tổ chức

Cái “tít” chúng tôi dùng làm đầu bài viết này không do mình nghĩ ra, mà là ý của hai người cộng sản đương chức. Người cộng sản chân chính thứ nhất là ông Phan Đăng Long – phó ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội ( do ông Hồ Duy Lợi, hay Quang Lợi gì đó làm trưởng ban), từng có nhiều danh ngôn trứ danh được lưu vào sử đảng. Khi nhà báo hỏi ông Long tuyên giáo rằng sao không hỏi ý kiến nhân dân đã rồi mới ra tay triệt hạ 6700 cây cổ thụ. Ông Long liền phán : chặt chưa đầy bảy nghìn cây cổ thụ, việc gì phải hỏi dân!
Vả, cây cối, đất đai, sông ngòi, biển trời này của đảng, đâu phải của dân mà hỏi ông Long nhỉ! Vì nguyên tắc của chế độ ta “ Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” mà ông Long! Ví dụ như ta đang có một cái máy bay đậu ngoài sân bay do đảng lái ( lãnh đạo), nhà nước quản lý thì xin hỏi ông Long nhân dân còn có chỗ nào trong cái máy bay kia mà làm chủ, thưa ông?
Từ chuyện cái máy bay ví dụ này, ta cũng có thể nói về đất nước, còn chỗ nào cho nhân dân làm chủ nước nhà khi đảng đã lãnh đạo và chính quyền đã quản lý, ví như chuyện nhân dân đâu có quyền làm chủ 30.000 cây xanh Hà Nội chẳng hạn!
Trong hàng vạn ông bà làm cán bộ tuyên giáo, bói không ra một người dám nói huỵch tuẹt ( nói thật) như ông Phan Đăng Long. Đúng quá, trong chế độ ưu việt nhất thế giới, tự do gấp triệu lần bọn tư bản giãy chết của các ông, nhân dân có là cái cóc khô gì mà phải hỏi ý kiến ! Nhân dân với các ông chỉ là một khái niệm, không hề là thực thể, thưa ông ! Ví như tờ báo “ Nhân Dân” của các ông in ra không hề bày bán ở các sạp báo, vì bán dân không mua, chỉ để phát không cho hàng vạn chi bộ, hàng vạn cơ quan!
Qua lời ông Phó ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội, chính quyền Hà Nội không cần dân, không có dân ! Vậy mà lâu nay tôi vẫn ngây thơ tin lời Cụ Hồ : “ Cán bộ là đầy tớ của nhân dân”!
Vế thứ hai của “tít” đầu bài trên: “ Chính quyền Hà Nội phạm luật có tổ chức” là câu nói như đinh đóng cột của ông đại tá công an, nhà văn Nguyễn Như Phong, tổng biên tập báo điện tử Petrotimes nói về chiến dịch triệt hạ 6700 cây xanh trong thành phố Hà Nội. Có thể nói, ông Nguyễn Như Phong sẽ là người cuối cùng bảo vệ đảng, một người cộng sản trung kiên chuyên đánh bọn “ diễn biến hòa bình”, người mà chính ra cần phải đưa vào trung ương phụ trách thông tin báo chí.
Chính ông Nguyễn Như Phong đã bóc mẽ hai ông vua nói dối là chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo và phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Quốc Hùng, khi hai ông cuội này tuyến bố là chúng tôi mới lỡ chặt 500 cây cổ thụ Hà Nội mà thôi ! Ông Nguyễn Như Phong bèn dõng dạc viết trên tờ báo của mình : các ông nói láo, các ông đã chặt phăng 2000 cây cổ thụ không hề sâu mọt gì ! Bộ máy tuyên truyền dối trá của chính quyền Hà Nội bèn “hên như cấm” ( câm như hến)!
Khi cho một lực lượng ăn cướp khổng lồ cưa có hai ngày hai đêm cả hai nghìn cây gỗ tốt, gỗ quý như gỗ lim, gỗ sưa, ông chủ tịch Nguyễn Thế Thảo bèn xoen xoét : tất cả người dân Hà Nội đã hân hoan đồng ý cho chúng tôi chặt 6700 cây cổ thụ ! Ngay tức thì, ông phó ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội bèn vả vào mặt ông Nguyễn Thế Thảo mà rằng: chặt cây thì có cần gì phải hỏi ý kiến dân ! Nghĩa là ông Nguyễn Thế Thảo bịa chuyện, ông chẳng hề hỏi ý kiến dân bao giờ!
Đến hôm ông phó chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Quốc Hùng họp báo tuyên bố ngừng chặt cây vì sức ép công luận, còn nói láo là mới chặt 500 cây thôi, ăn thua gì, đã tát vào mặt ông chủ tịch THẾ THẢO ( thay cây) mà rằng : chúng tôi sẽ xin ý kiến chờ nhân dân đồng thuận ! Thế mà, cách đây mấy ngày, ông chủ tịch, ông phó chủ tịch, ông giám đốc sở xây dựng Hà Nội đều nói láo trên các phương tiện truyền thông : toàn dân Hà Nội đã đồng ý cho chúng tôi chặt ngót 7000 nghìn cây gỗ quý đem bán…
Qua đây, chúng ta thấy bộ mặt chính quyền Hà Nội thật là nhem nhuốc. Nếu các ông to nhất của đảng cầm quyền là Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng không họp nhau để cách chức chức ông bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, ông chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo thì nhân dân VN và cộng đồng quốc tế sẽ thấy chính hình ảnh chế độ qua vụ tàn phá môi trường xanh Hà Nội này vậy!
Trong FB, nhà thơ Vương Trọng có kể chuyện Cụ Hồ rất căm ghét ai chặt cây, dù chỉ chặt một cây nhỏ. Nếu ông cụ còn sống, thì giờ này án tử hình do cụ ban đã trúng đầu hai ông đứng đầu Hà Nội; như cụ từng ra lệnh tử hình cục trưởng cục quân trang Trần Dụ Châu tham ô tiền quân trang bộ đội để làm đám cưới trong kháng chiến chống Pháp ( nên nhớ số tiền Trần Dụ Châu tham ô so với số tiền khổng lồ triệt hạ 6700 cây lấy gỗ bán của chính quyền Hà Nội như hạt cát ví với sa mạc Xahara)
Nghe nói ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã giới thiệu ông bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị làm ứng cử viên sáng giá nhất cho chức tổng bí thư đảng CSVN trong đại hội đảng khóa tới đầu năm 2016? Nếu ý định của ngài tổng Trọng thành công, thì Trần Mạnh Hảo tôi xin cúi đầu thắp hương trước cho hàng triệu cây cổ thụ trong cả nước, rằng ta xin chào my hỡi các cây xanh Việt Nam, vì mi sẽ không còn cơ hội sống sót khi ông Phạm Quang Nghị cầm quyền .,.
Sài Gòn 22-3-2015
T.M.H. (Facebook

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015


"Lời từ biệt cuối cùng" của ông Lý Quang Diệu

Đức Huy | 23/03/2015 07:36

Toàn văn bài điếu văn cảm động được cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu đọc trong lễ tang vợ ông, bà Kha Ngọc Chi, vào ngày 6/10/2010.
LTS: Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu vừa qua đời ở tuổi 91 sau một thời gian dài lâm bệnh nặng.
Trong bối cảnh đó, nhiều tài liệu, bài viết xúc động về ông Lý, một trong những chính trị gia xuất sắc nhất châu Á thế kỷ XX đã được các báo đăng tải.
Dưới đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một trong số đó: Bài điếu văn do ông Lý Quang Diệu đọc tại lễ tang vợ, bà Kha Ngọc Chi, đăng trên kênh Channel News Asia với tiêu đề: Lời từ biệt cuối cùng gửi vợ tôi.
Từ thời xa xưa, con người ta đã khơi nguồn và gìn giữ những tục lệ để bạn bè và người thân của người đã khuất cùng nhau chia sẻ nỗi đau mất mát.
Thay vì ghê sợ trước cái chết, họ cùng nhau bày tỏ lòng thành kính trước vong linh người đã bước sang thế giới bên kia, và đem đến sự bình yên cho những người ở lại.
Tôi còn nhớ khi bà ngoại tôi qua đời khoảng 75 năm trước. Lúc bấy giờ, suốt 5 đêm liền gia đình tôi quây quần bên nhau ca tụng cuộc đời bà, khóc thương bà, và tưởng nhớ bà, tất cả được thực hiện dưới sự dẫn dắt của một người chuyên khóc thuê.
Giờ đây, những tục lệ như vậy không còn nữa. Nỗi buồn hôm nay xin được thể hiện qua những câu chuyện về cuộc đời người vợ, người mẹ, và người bà của chúng tôi.
Tháng 10/2003, khi bà trải qua cơn đột quỵ đầu tiên, đối với chúng tôi dường như đó là một lời cảnh báo về ranh giới giữa sự sống và cái chết đã cận kề.

Tôi và bà đã ở bên nhau từ năm 1947, hơn ba-phần-tư đời người tôi có bà, và bà có tôi. Sự ra đi của bà đã để lại trong tôi một nỗi đau không thể diễn tả thành lời.
Nhưng hôm nay, khi nhìn lại chặng đường chúng tôi đã đi cùng nhau trong suốt bao năm tháng qua, tôi muốn ca tụng cuộc đời bà.
Những ngày đầu gặp gỡ
Khi ấy, tôi là một chàng trai trẻ bỏ dở đại học, không có công ăn việc làm ổn định. Bố mẹ bà bấy giờ cũng không thấy triển vọng gì ở chàng rể tương lai của họ.
Nhưng bà luôn tin vào tôi.

Ông Lý Quang Diệu và bà Kha Ngọc Chi khi còn trẻ. Ảnh: Google Images
Ông Lý Quang Diệu và bà Kha Ngọc Chi khi còn trẻ. Ảnh: Google Images

Tôi và bà nguyện sẽ cố gắng vì nhau. Tôi quyết định đến Anh vào tháng 9/1946 để học luật, còn bà quay lại trường Raffles, với quyết tâm giành cho bằng được suất học bổng do Nữ hoàng Anh trao tặng hàng năm cho sinh viên Singapore.
Chúng tôi biết chỉ một người trong cả nước có được vinh dự này. Tôi đã có điều kiện được sang Anh trước, và hi vọng chúng tôi có thể hội ngộ nếu bà giành được suất học bổng quý giá ấy. Nếu không, chúng tôi sẽ phải xa nhau trong 3 năm.
Tháng 6/1947, bà đã giành được suất học bổng ấy. Kể từ đó, chúng tôi không bao giờ xa nhau.
Tôi và bà làm đám cưới vào tháng 12/1947 tại Stratford-upon-Avon, khi đó chỉ có hai chúng tôi với nhau. Tại Đại học Cambridge, chúng tôi dồn hết tâm sức vào việc học luật.
Khi trở lại Singapore, chúng tôi cùng được nhận vào làm tại văn phòng luật Laycock & Ong, với vai trò hỗ trợ pháp lý. Không lâu sau, tôi và bà làm đám cưới chính thức, thể theo nguyện vọng của bạn bè và người thân.
Tháng 2/1952, đứa con trai đầu lòng của chúng tôi, Hiển Long, chào đời. Bà xin nghỉ một năm để chăm sóc con.

Vợ chồng ông Lý cùng cậu con trai đầu lòng Hiển Long - Thủ tướng đương nhiệm của Singapore. Ảnh: Google Images
Vợ chồng ông Lý cùng cậu con trai đầu lòng Hiển Long - Thủ tướng đương nhiệm của Singapore. Ảnh: Google Images

Cùng lúc đó, tôi được giao vụ kiện của Hội Liên hiệp các Nhân viên Bưu chính Viễn thông. Họ muốn có những điều khoản và điều kiện dịch vụ tốt hơn từ phía chính phủ. Sau hai tuần thương lượng, hai bên đã thỏa hiệp thành công.
Dù đang phải chăm sóc đứa con đầu lòng, bà vẫn tỉ mỉ đọc và chỉnh sửa bản thảo báo cáo của tôi, khiến nó trở nên đơn giản và dễ hiểu hơn.
Dần dần, bà đã thay đổi cách hành văn của tôi. Giờ tôi viết câu cú ngắn gọn, ở dạng chủ động. Sống cùng nhau lâu năm, chúng tôi thay đổi thói quen của nhau, cũng như tự thay đổi bản thân để hợp với tính cách người còn lại.
Tôi và bà đều hiểu rằng chúng tôi không thể cứ mãi là một đôi tình nhân mơ mộng được. Cuộc sống là một thử thách đằng đẵng với đầy rẫy những vấn đề cần giải quyết.
Chúng tôi có thêm hai đứa con, Vỹ Linh (1955) và Hiển Dương (1957). Bà đã nuôi dưỡng chúng trở thành những con người lịch sự, biết cư xử và để tâm đến người khác.
Nhờ có bà, không bao giờ các con ra đường với tâm thế cậu ấm, cô chiêu của Thủ tướng.
Thu nhập từ nghề luật sư của bà đủ để khiến tôi không phải lo lắng gì về tương lai của các con.
Bà đã chứng kiến cái giá tôi phải trả vì không học tiếng Trung khi còn nhỏ. Do đó, chúng tôi quyết định gửi các con đi học tại các trường lớp sử dụng tiếng Trung từ mẫu giáo. Bà cũng đảm bảo việc các con học tiếng Anh và tiếng Malay ở nhà.
Công dưỡng dục của bà đã cho các con một hành trang vững chắc cho cuộc sống tương lai tại một quốc gia đa ngôn ngữ.
Tôi và bà chưa bao giờ phải tranh cãi về cách nuôi dạy con cái hay về tài chính. Thu nhập và tài sản của chúng tôi đều đứng tên cả hai người. Chúng tôi luôn tin tưởng nhau tuyệt đối.
Bà luôn để ý đến những gì diễn ra xung quanh. Có lần, bà nhận thấy một số loài chim trong vườn Istana, nơi chúng tôi thường đi dạo mỗi tối, dần biến mất. Thay vào đó là chim mynah và lũ quạ.
Sau đó, cũng chính bà phát hiện ra rằng người quản lý khu vườn đã cho cắt cỏ dại và phun sương chống muỗi, tước đi nguồn thức ăn của những loài chim này. Bà cho dừng việc cắt cỏ và phun sương, và lũ chim lập tức trở lại.
Bà nắm rõ tên của từng loại hoa, kể cả tên khoa học của chúng. Bà sở hữu một vốn từ vựng khổng lồ. Bà từng theo học chuyên ngành Anh văn tại Đại học Raffles và là một người rất chăm đọc sách.
Jane Austen, J.R.R. Tolkien, Chiến tranh Hy Lạp cổ đại của Thucydides, tập thơ Aeneid bằng tiếng Latin của Virgil, Bách khoa toàn thư đồ ăn Oxford, Hải sản Đông Nam Á, Các loài cây bên vệ đường Malaya, hay Các loài Chim ở Singapore, sách gì bà cũng đọc.

Phu nhân Thủ tướng

Chính bà cũng giúp tôi soạn thảo Hiến pháp của đảng Nhân dân Hành động (PAP). Trong buổi họp chính thức đầu tiên của đảng vào ngày 4/11/1954, bà đã tập hợp phu nhân các thành viên sáng lập đảng để thêu nút thắt hoa hồng cho những người lên sân khấu.
Trong cuộc bầu cử đầu tiên tôi tham gia tại quận Tanjong Pagar, chính bà đã biến căn nhà của chúng tôi tại đường Oxley trở thành nơi tập kết ô tô đưa những người ủng hộ tôi ở quận này tới điểm bỏ phiếu.
Bà cũng từng cảnh báo rằng tôi không thể tin tưởng những thành viên liên hiệp giao thương cánh tả do Lim Chin Siong cầm đầu (ông Lim sau này đã châm ngòi cho nhiều cuộc bạo động tại Singapore và từng bị PAP bắt giữ - PV).
Bà có biệt tài đọc tính cách người khác. Bà vẫn nhắc tôi phải cẩn trọng với một số người nhất định; và quan sát của bà về những người này thường chính xác.
Khi Singapore chuẩn bị sáp nhập với Malaysia, chính bà đã nói với tôi rằng bước đi này sẽ không đem lại thành công vì các lãnh đạo Malaysia có một cách tiếp cận khác, nền chính trị của họ đề cao tính tập thể và nhất quán trong chủng tộc và tôn giáo.
Tôi đáp lại rằng chúng tôi phải làm như vậy vì không còn lựa chọn nào khác. Nhưng bà đã đúng. Chỉ chưa đầy hai năm sau khi sáp nhập, Singapore đã bị đề nghị phải tách khỏi Malaysia.
Năm 1965, khi ly khai chỉ còn là vấn đề thời gian, Bộ trưởng Tư pháp Eddie Barker đã soạn thảo sẵn một bộ luật. Nhưng trong đó ông không hề nhắc đến cam kết của Chính phủ về việc đảm bảo tiến hành thỏa thuận cung cấp nước kí với đại diện bang Johor (Malaysia).
Tôi lập tức nhờ bà bổ sung chi tiết trên. Chính bà đã soạn thảo cam kết này cũng như thay đổi chi tiết liên quan trong Hiến pháp Nhà nước Malaysia, trước khi trình lên Liên Hiệp Quốc.
Bà đã hết sức chỉn chu trong cách dùng từ. Thư kí Khối Thịnh vượng chung Anh quốc khi đó là Arthur Bottomley đã phải nói rằng, nếu sau này các nước nào có ý định tách rời, ông mong họ có thể thực hiện điều đó một cách chuyên nghiệp như Singapore và Malaysia.
Sau này, mỗi khi các nhà lãnh đạo Malaysia đe dọa cắt nguồn cung cấp nước, tôi luôn yên tâm rằng bản cam kết mạch lạc do bà soạn thảo sẽ giúp Singapore có được một phán quyết có lợi từ Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Những ngày cuối đời

Sau cơn đột quỵ đầu tiên, bà mất đi một nửa thị giác, gây ảnh hưởng tới việc đọc sách của bà. Nhưng bà lập tức học cách thích nghi, với sự trợ giúp của một chiếc thước kẻ. Bà vẫn đi công du cùng tôi, vẫn bơi đều đặn mỗi tối, và vẫn giữ liên lạc với gia đình và bạn bè.
Bà vẫn nghe những bản nhạc giao hưởng và những ca khúc bất hủ do bà sưu tập. Bà vẫn nói đùa rằng cuộc đời bà có thể được chia làm hai giai đoạn, trước và sau đột quỵ, như trước và sau công nguyên vậy.
Nhưng cơn đột quỵ thứ hai của bà, vào ngày 12/5/2008, nghiêm trọng hơn nhiều. Tôi cố gắng động viên bà, cùng với sự trợ giúp của các y bác sĩ và nhân viên trị liệu xuất sắc.
Đội ngũ y tá và nhân viên phục vụ đều yêu quý bà vì bà luôn quan tâm đến họ.
Khi ho, bà vội vớ lấy chiếc gối nhỏ trên giường để che miệng, vì bà không muốn lây bệnh sang cho họ.
Khi tôi hôn lên má bà, bà đều nhắc tôi đừng đến quá gần vì sợ tôi sẽ lây bệnh viêm phổi của bà.
Khi được tặng một bịch đào, bà dặn dò người phục vụ mang một quả về để tôi ăn tráng miệng sau bữa trưa.
Kể cả khi bệnh tật, bà vẫn xem tôi là tâm điểm cuộc sống của bà.
Vào cái ngày 24/6/2008 ấy, kết quả chụp CT phát hiện bà đã bị tai biến mạch máu ở cả vùng não bên phải. Không còn thuốc men hay phẫu thuật gì có thể cải thiện được tình hình nữa. Tôi đưa bà về nhà hôm 3/7/2008.
Các bác sĩ nói rằng chúng tôi chỉ còn vài tuần. Nhưng bà đã ở bên tôi thêm 2 năm, 3 tháng nữa, đến ngày 2/10/2010.
Trong những ngày tháng cuối đời, bà vẫn minh mẫn. Quãng thời gian này đã giúp tôi và các con dần chấp nhận được thực tế phũ phàng không thể tránh khỏi.

Vợ chồng ông Lý khi tuổi già. Ảnh: Google Images
Vợ chồng ông Lý khi tuổi già. Ảnh: Google Images

Hai năm cuối của cuộc đời bà thật khó nhọc. Bà không thể nói được nhưng vẫn có khả năng nhận thức những gì diễn ra xung quanh.
Bà không thể rời khỏi giường vì những cơn đột quỵ liên tiếp. Bà không thể nói được nhưng vẫn hiểu chuyện gì đang diễn ra. Hàng đêm, bà luôn đợi tôi đến ngồi bên bà, kể lại cho bà biết những việc tôi đã làm trong ngày, và đọc cho bà nghe những bài thơ bà yêu thích. Rồi bà thiếp đi.
Trước khi ra đi, bà đã chia sẻ với tôi ước nguyện cuối cùng của cuộc đời, bà nhờ tôi dặn các con đặt hộp tro của chúng tôi bên cạnh nhau, cũng như tôi và bà đã ở bên nhau suốt cả đời này vậy.
Tôi đã lưu giữ biết bao kỉ niệm quý giá trong suốt 63 năm tôi và bà bên nhau. Nếu không có bà, tôi đã là một người hoàn toàn khác, với một cuộc sống hoàn toàn khác. Bà đã dành trọn cuộc đời cho tôi, và cho các con.
Bà luôn ở bên tôi khi tôi cần đến bà. Bà đã sống một cuộc sống tràn hơi ấm tình thương và đầy ý nghĩa.
Có lẽ tôi nên cảm thấy được an ủi vì những gì bà đã làm được trong 90 năm cuộc đời.
Nhưng lúc này đây, khi tôi và bà nói lời từ biệt lần cuối, trái tim tôi lại nặng trĩu nỗi buồn...
Lý Quang Diệu, 6/10/2010

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Những 'đường hầm cây' tuyệt đẹp trên thế giới

Những hàng cây mọc tự nhiên hoặc được trồng thẳng tắp, đan cài vào nhau tạo thành những vòm cây tuyệt đẹp.
Hoa anh đào trên đường phố Bonn, Đức.
 
Con đường mang tên "Tình yêu" ở Ukraine.
 
Đường sắt đi xuyên qua con đường "Tình yêu".
 
Hoa Wisteria ở Nhật Bản.
 
Trên đường phố Porto Alegre, Brazil.
 
Hoa anh đào ở Nhật Bản.
 
Con đường tre ở Kyoto, Nhật Bản.
 
Một con đường ở Hà Lan. 
 
Vòm hoa kim tước ở vườn Bodnant, Anh.
 
Phong cảnh ở Bắc Ireland. Hàng cây này đã 300 năm tuổi.
 
Cũng là hàng cây ở Bắc Ireland, được chụp vào ban ngày.
 
Hàng cây Ginkgo ở Nhật Bản vàng rực lá vào mùa thu.
 
Hàng cây phong đỏ rực ở St. Louis, Mỹ.
 
Màu xanh trên đường phố Jerez, Tây Ban Nha.
 
Hoa Jacarandas (phượng tím) ở Nam Phi.
 
Hàng cây bên đường cạnh sông Mississippi, thuộc địa phận thành phố New Orleans, Mỹ.
 
Một con đường ở hạt Sussex, Anh.
 
Con đường ở thành phố Cypress, California, Mỹ.
 
Nhà ga Gyeonghwa ở Jinhae, Hàn Quốc.
 
Hàng cây trong công viên Parque Francisco Alvarado của Costa Rica.
 
Theo Boredpand